DỰ BÁO KINH TẾ THẾ GIỚI 2020 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ

  1. KHÁI QUÁT TRIỂN VỌNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2006 – 2020

Năm 2020, quy mô nền kinh tế thế giới dự báo sẽ tăng thêm khoảng 2/3 so với năm 2005 với mức tăng GDP trung bình 3,5%/năm trong giai đoạn 2006-2020 (tương đương mức tăng của 25 năm trước đây). Hai nước có dân số đông nhất thế giới, Trung Quốc và Ấn Độ, sẽ nằm trong số các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới.

Tỷ trọng GDP châu Á trong GDP toàn thế giới dự báo sẽ tăng lên 43% vào năm 2020 so với 35% năm 2005. Trong giai đoạn 2006-2020, Nga, Braxin và Mêhicô dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 3%/năm; Trung Đông và Bắc Phi dự báo sẽ tăng trưởng 4%/năm. Đặc biệt tốc độ tăng trưởng của khu vực Cận Xahara châu Phi sẽ chỉ đạt dưới 3%/năm, phần nào do tác động của đại dịch AIDS. Tại châu Mỹ Latinh, tăng trưởng GDP bình quân đầu người sẽ chỉ đủ để ngăn không cho khoảng cách với các nước phát triển tăng thêm. Xét về GDP bình quân đầu người, Cận Xahara châu Phi sẽ còn tiếp tục tụt hậu.

Tiêu dùng trên thế giới, tính theo USD áp dụng tỷ giá thị trường, sẽ tăng mạnh, trung bình 5,6%/năm, từ mức 27.000 tỷ USD hiện nay lên mức 62.000 tỷ USD vào năm 2020. Xét về sức mua tính theo USD, Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, chiếm gần 1/3 tiêu dùng toàn cầu. Tuy nhiên, tiêu dùng tăng chủ yếu tại các thị trường đang nổi. Trung Quốc dự báo sẽ là thị trường tiêu thụ lớn thứ hai thế giới. Ấn Độ hoặc thị trường châu Âu sẽ giữ vị trí thứ ba vào năm 2020.

Năm 2020, Trung Quốc sẽ có ngành công nghệ lớn nhất thế giới. Trung Quốc cũng sẽ thay thế Đức trở thành nước có lượng khách du lịch ra nước ngoài lớn nhất vào đầu những năm 2010. Đến năm 2020, lượng xe ô tô tại Trung Quốc sẽ lớn hơn so với Mỹ. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để đề cập đến “một thế kỷ châu Á”. Tỷ trọng của Mỹ và EU trong tổng thu nhập của thế giới sẽ tương tự mức hiện nay, mỗi khu vực chiếm 20% tính theo sức mua tương đương (PPP). Tỷ trọng của Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tăng lên, trong đó tỷ trọng của Trung Quốc có thể ngang bằng với Mỹ và EU vào năm 2020. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tỷ trọng của Nhật Bản giảm.

Tăng trưởng kinh tế chung của EU sẽ chậm lại do việc tiếp nhận thêm các thành viên mới. Tính đến năm 2020, EU sẽ bao gồm tất cả các nước vùng Bancăng và Thổ Nhĩ Kỳ. Bungary và Rumani dự kiến sẽ gia nhập EU vào năm 2007 hoặc 2008, và khoảng hai năm sau đó là Crôatia. EU với 25 nước thành viên hiện nay sẽ trở thành liên minh của trên 30 nước vào năm 2020.

Mỹ sẽ sản xuất ra sản lượng tương đương với EU mặc dù dân số ít hơn. Khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người sẽ tiếp tục tăng do EU tiếp nhận thêm các thành viên mới là những nước nghèo hơn. GDP bình quân đầu người của EU15 bằng khoảng 70% so với Mỹ vào năm 2000. Tỷ lệ này đã giảm xuống còn 65% đối với EU25 vào năm 2005, phần lớn là do việc mở rộng EU vào năm 2004 với việc tiếp nhận các nước nghèo hơn rất nhiều so với các nước EU15, ngoài ra còn do kinh tế châu Âu tăng trưởng kém hơn vào nửa đầu thập kỷ này. Dự báo thu nhập bình quân đầu người của EU33 sẽ chỉ bằng 56% của Mỹ vào năm 2020.

Trong năm 2020, Mỹ tiếp tục là nước dẫn đầu về thương mại, mặc dù tỷ trọng của Mỹ trong giá trị xuất nhập khẩu của toàn thế giới sẽ giảm nhẹ, từ 14% năm 2005 xuống 12% năm 2020. Trung Quốc sẽ thay thế Đức ở vị trí thứ hai và gần bắt kịp Mỹ vào năm 2020. Ấn Độ sẽ nhảy vọt từ vị trí thứ 24 hiện nay lên vị trí thứ 10, tuy nhiên cũng chỉ chiếm 3% tổng thương mại toàn cầu.

Mỹ

Tăng trưởng GDP tiềm năng của Mỹ sẽ ở mức gần 3%/năm trong thời gian tới, chủ yếu là do tăng năng suất lao động, kết quả của việc Mỹ đầu tư vào ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông (ICT). Những nghiên cứu trước đây của Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU) cho thấy ICT là nhân tố chính tạo nên sự chênh lệch về năng suất lao động xuyên Đại Tây Dương. Mỹ được dự báo sẽ tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu về ứng dụng ICT trong 15 năm tới.

Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế Mỹ còn do lực lượng lao động tăng. Trong số các nước phát triển, dân số Mỹ tiếp tục có mức tăng tương đối cao. Trong vòng 15 năm tới, lượng người nhập cư lớn và tỷ lệ sinh cao tại Mỹ sẽ khiến dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng. Ngược lại, tại EU, mặc dù cho phép nhập cư, dân số trong độ tuổi lao động dự báo sẽ tăng chậm lại hoặc giảm trong vòng 15 năm tới. Tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động trung bình hàng năm của Mỹ dự báo đạt 0,5%/năm (giảm từ mức gần 1%/năm trong thập kỷ này xuống còn 0,3%/năm giai đoạn 2010-2020).

Châu Âu

Kinh tế châu Âu dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 2%/năm trong giai đoạn 2006-2020. Vào năm 2020, EU sẽ có dân số trên 600 triệu người, cao hơn 80% so với dân số Mỹ. Sự tăng lên này chủ yếu do EU tăng số nước thành viên (dân số EU25 sẽ không tăng đáng kể, dự báo chỉ đạt 470 triệu người năm 2020 so với mức 460 triệu người hiện nay). Chỉ riêng việc gia nhập của Thổ Nhĩ Kỳ sẽ làm dân số EU tăng thêm 84 triệu người vào năm 2020, chiếm 13,8% tổng dân số EU.

Tốc độ tăng trưởng GDP tại các nước thành viên gia nhập EU năm 2004 sẽ vào khoảng 3,5%/năm trong giai đoạn 2006-2020, tương đương mức trung bình của thế giới. Mặc dù tăng trưởng cao hơn, các nước thành viên Đông Âu mới dự báo chưa thể bắt kịp các nước EU15. Thu nhập bình quân đầu người của những nước thành viên mới sẽ chỉ tăng từ mức dưới 50% thu nhập bình quân của EU15 vào thời điểm 2004 lên 60% vào năm 2020.

Tại các nền kinh tế châu Âu lớn, không giống như Mỹ, tốc độ tăng năng suất lao động đã giảm từ giữa những năm 90. Tuy nhiên, năng suất lao động có thể tăng trở lại do nhiều nền kinh tế châu Âu đang tiến hành cải cách thị trường lao động và cải cách thuế. Tăng trưởng của châu Âu đã giảm xuống mức dưới 2% trong một thập kỷ qua. Trong thời gian tới, mặc dù tốc độ tăng trưởng được cải thiện, EU vẫn tụt lại so với Mỹ và khó có thể vượt qua Mỹ.

Triển vọng kinh tế Nga trong dài hạn tương đối khó dự báo, tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong dài hạn dự báo chỉ đạt mức khiêm tốn là 3,7%/năm. Về mặt tích cực, tình hình chính trị tại Nga được cải thiện rất nhiều và kinh tế vĩ mô ổn định trong những năm gần đây. Tuy nhiên, môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều trở ngại. Vai trò của kinh tế nhà nước ngày càng tăng có thể hạn chế sự phát triển kinh tế tư nhân. Đồng thời, Nga đang phải đối mặt với một vấn đề nhân khẩu học nghiêm trọng xuất phát từ việc tỷ lệ sinh thấp, tình trạng chăm sóc sức khoẻ yếu kém và nguy cơ bùng nổ đại dịch AIDS. Dân số trong độ tuổi lao động của Nga có thể sẽ giảm đáng kể vào năm 2020.

Châu Á

Phần lớn các nền kinh tế châu Á sẽ duy trì mức tăng trưởng cao. Tăng trưởng GDP của cả khu vực dự báo đạt 4,9%/năm trong giai đoạn 2006-2020, chủ yếu do sự mở cửa, bắt kịp về năng suất lao động, chất lượng lao động tương đối cao, sự phát triển của ICT, và những cải cách về thể chế. Trong một số trường hợp, chủ yếu ở Nam Á, các nhân tố về nhân khẩu học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng nhanh.

Tăng trưởng GDP của Trung Quốc dự báo sẽ chậm lại, từ mức 8,7%/năm giai đoạn 2001-2005 xuống còn 6%/năm giai đoạn 2006-2020. Tuy nhiên, mức tăng trưởng trung bình 6%/năm của Trung Quốc trong giai đoạn 2006-2020 vẫn rất ấn tượng. Thế mạnh của Trung Quốc là cơ sở hạ tầng tốt, thị trường lao động linh hoạt, hệ thống y tế khá tốt, lao động có kỹ năng tương đối cao và không có bất kỳ rào cản nào đối với đầu tư nước ngoài và việc thiết lập cơ sở kinh doanh tại Trung Quốc. Khả năng bắt kịp về năng suất lao động một cách nhanh chóng có thể duy trì trong nhiều năm. Trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục là nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hàng đầu.

Sự hội nhập ngày càng tăng vào nền kinh tế toàn cầu và yếu tố nhân khẩu học thuận lợi cho phép Ấn Độ có thể duy trì mức tăng trưởng 5,9%/năm trong giai đoạn 2006-2020. Ấn Độ là nước có nền dân chủ tốt, hệ thống luật pháp công bằng. Tuy nhiên, do ngành công nghệ thông tin của Ấn Độ chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP nên ngành này khó có thể trở thành động lực tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Tăng trưởng kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều vào việc hiện đại hoá ngành nông nghiệp và ngành chế tác.

Triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản khá ảm đạm. Trong vòng 15 năm tới, dân số trong độ tuổi lao động của Nhật Bản sẽ giảm với tốc độ trung bình 1%/năm. Tiềm năng tăng trưởng sản lượng sẽ thấp do lực lượng lao động giảm và năng suất lao động ít được cải thiện. Theo đó, tăng trưởng GDP thực tế của Nhật Bản dự báo sẽ chỉ đạt trung bình 0,7%/năm trong giai đoạn 2006-2020.

Vào năm 2020, một số nền kinh tế của khu vực sẽ bắt kịp Mỹ, như Xingapo, hoặc gần với Mỹ, như Hồng Công và Đài Loan. Tuy nhiên, các nước còn lại của khu vực sẽ tiếp tục tụt hậu xa. Ví dụ vào năm 2020, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc sẽ xấp xỉ 1/4 so với Mỹ nếu tính theo PPP, nhưng chỉ bằng 8% (hay 1/12) nếu tính theo tỷ giá thị trường.

Châu Mỹ Latinh

Tốc độ tăng trưởng bình quân của châu Mỹ Latinh dự báo đạt 3%/năm trong giai đoạn 2006-2020. Sự ổn định kinh tế vĩ mô đang được củng cố và đã có những tiến bộ trong cải cách cơ cấu. Tuy nhiên, tình hình chính trị của khu vực sẽ cản trở cải cách về tài chính và thể chế. Tăng trưởng dân số trong độ tuổi lao động cũng rất thấp. Chất lượng nhân lực, xét về sức khoẻ và kỹ năng của lực lượng lao động, vẫn tụt hậu xa so với các thị trường đang nổi ở châu Á và Đông Âu.

  1. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ
  2. Ngành ô tô

Xu thế phát triển

Ngành công nghiệp ôtô là ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới, chiếm tới 10,5% GDP của các nước phát triển. Trong vòng 30 năm qua, ngành công nghiệp ôtô tăng trưởng khoảng trên 1%/năm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tính đến năm 2020, sản lượng của ngành sẽ tăng khoảng 65% so với hiện nay. Hoạt động sản xuất sẽ chủ yếu phụ thuộc vào cầu của khu vực châu Á và có thể đạt mức sản lượng khoảng 100 triệu ô tô/năm.

Năm 2005, khu vực châu Á chiếm 35% sản lượng và 25% doanh số bán hàng của ngành công nghiệp ô tô toàn thế giới. Dự báo, năm 2020, con số này tương ứng sẽ là 55% và 40%. Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là hai thị trường phát triển mạnh nhất trong vài thập kỷ tới nhờ quy mô thị trường lớn và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.

Mặc dù châu Á có những lợi thế về mặt chi phí nhưng địa điểm thực hiện quy trình lắp ráp cuối cùng sẽ không có sự thay đổi lớn bởi hoạt động lắp ráp xe ôtô trong tương lai sẽ sử dụng nhiều vốn chứ không phải nhiều lao động. Điều này sẽ khiến những nhà máy tại Nhật Bản, châu Âu và Mỹ vẫn sẽ dẫn đầu về năng suất. Ngoài ra, đối với những doanh nghiệp lắp ráp, trong 15 năm tới, cơ hội cho những thay đổi cơ bản về mặt công nghệ sẽ thấp hơn. Mặc dù được tự động hoá nhiều hơn nhưng phần lớn hoạt động lắp ráp sẽ vẫn giống như hiện nay.

Tuy nhiên sẽ có sự thay đổi lớn đối với việc sản xuất phụ tùng. Hơn một nửa các doanh nghiệp ngành ôtô tham gia cuộc điều tra cho rằng số lượng các nhà cung ứng sẽ tăng vào năm 2020, trái ngược so với xu hướng của những thập kỷ trước. Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là những nước có mức tăng sản lượng phụ tùng lớn, không chỉ do mức lương thấp mà còn do chi phí cho các kỹ sư có tay nghề giỏi cũng thấp.

Thị trường xe cũ tại Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tăng trưởng nhanh trong tương lai dù hiện vẫn đang trong thời kỳ đầu phát triển. Khả năng tài chính của người dân ngày càng được cải thiện, mạng lưới giao thông được mở rộng và giá xe cũ thấp hơn sẽ cho phép ngay cả người nông dân cũng có thể mua được ôtô. Việc sở hữu một chiếc ôtô đối với những người thu nhập thấp trong xã hội sẽ trở thành hiện thực.

Trong thời gian tới, khả năng tiêu thụ nhiên liệu sạch, thân thiện môi trường và sử dụng công nghệ hybrid sẽ là mối quan tâm hàng đầu. Hơn 75% các doanh nghiệp được điều tra tin tưởng rằng môi trường sẽ là một vấn đề được quan tâm chính trong chiến lược của các tập đoàn. Dự báo những chiếc xe sử dụng nhiên liệu thay thế khác hay sử dụng động cơ hybrid sẽ chiếm 1/5 doanh số bán hàng vào năm 2020. Với tình hình giá dầu bất ổn và nhu cầu nhập khẩu dầu tại Ấn Độ và Trung Quốc tăng lên, tỷ lệ này có thể còn cao hơn.

Phương thức hoạt động

Trong 15 năm tới, dự báo ngành công nghiệp ôtô sẽ không được tập trung phát triển như xu hướng vẫn thấy trong 100 năm qua. Năm 2020, ngành công nghiệp này sẽ thu hút nhiều công ty tham gia hơn thay vì chỉ chịu sự chi phối bởi 6 công ty chiếm hơn 75% sản lượng toàn cầu trong năm 2005. Tính kinh tế theo quy mô của ngành có xu hướng giảm: Chi phí marketing giảm nhờ vào việc sử dụng Internet và những phương pháp độc đáo khác; điểm hoà vốn giảm đi đáng kể và thậm chí chi phí nghiên cứu và triển khai (R&D) cũng giảm.

Hầu hết các nhà sản xuất ôtô sẽ trở thành những nhà cung cấp cho nhiều đại lý hoặc những nhà bán lẻ lớn. Việc bán hàng và thu thập thông tin qua mạng Internet sẽ ngày càng phổ biến. Hoạt động bán lẻ sẽ được cách mạng hoá theo kiểu “Wal-Mart”. Nhờ chi phí bán lẻ thấp và hoạt động của các công ty sản xuất được cải thiện, người sở hữu ô tô sẽ sử dụng dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng ít hơn.

Các đối tác tham gia trong ngành

Mối quan hệ giữa những người sở hữu xe và người bán buôn truyền thống sẽ trở nên lỏng lẻo hơn trong vòng 15 năm tới. Các nhà sản xuất sẽ sử dụng trang web và những công nghệ truyền thông mới khác để tiếp cận trực tiếp khách hàng, nhằm xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng và tăng khả năng cá biệt hoá sản phẩm và dịch vụ. Hơn 90% các doanh nghiệp được điều tra cho rằng mối quan hệ giữa nhà sản xuất và khách hàng sẽ tăng lên trong tương lai. Đồng thời, họ cũng cho rằng, trong vòng 15 năm tới, cần đầu tư nhiều hơn vào công nghệ thông tin trong hoạt động marketing, bán hàng và hỗ trợ khách hàng.

Mối quan hệ của nhà sản xuất với các nhà cung cấp cũng sẽ có sự thay đổi. Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành theo điều tra của Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU) tin tưởng rằng, mối quan hệ của họ với các nhà cung ứng và các đối tác bên ngoài khác sẽ ngày càng có vị trí quan trọng và được coi như một lợi thế cạnh tranh vào năm 2020. Hơn 90% các doanh nghiệp cho biết họ sẽ hợp tác tốt hơn với các nhà cung ứng trong quá trình phát triển sản phẩm, 68% cho rằng họ sẽ chia sẻ những thông tin nội bộ đối với các nhà cung ứng.

  1. Hàng tiêu dùng và bán lẻ

Khi dự báo về tương lai phát triển trong 15 năm tới, những doanh nghiệp bán lẻ hàng tiêu dùng cho rằng có hai hướng phát triển: Gia nhập các thị trường đang nổi và tăng doanh số bán tại các thị trường hiện có. Mỗi hướng phát triển đều có những thách thức riêng.

Trong giai đoạn 2006-2020, thị trường bán lẻ tại các quốc gia không thuộc OECD dự báo sẽ có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Tới năm 2020, Mỹ vẫn là thị trường tiêu dùng lớn nhất, chiếm khoảng gần 1/3 chi tiêu dùng toàn thế giới. Tỷ trọng của EU tuy giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức hơn 20% vào năm 2020. Đáng chú ý là mức tăng chi cho tiêu dùng của thế giới trong 15 năm tới chủ yếu sẽ diễn ra tại các quốc gia đang phát triển hàng đầu, đặc biệt là Ấn Độ và Trung Quốc.

Đến năm 2020, Trung Quốc dự báo sẽ vượt qua Mỹ để trở thành thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới. Hiện nay, Trung Quốc có 12 triệu hộ gia đình với thu nhập bình quân hàng năm hơn 7.500 USD. Đến năm 2020, con số này ít nhất sẽ tăng lên 80 triệu. Tầng lớp trung lưu của Trung Quốc sẽ chiếm khoảng 40% dân số vào năm 2020, tức là gấp đôi hiện nay, nhưng tỷ lệ này vẫn thấp hơn nhiều so với Mỹ (60%). Bên cạnh đó, thu nhập bình quân tính theo đầu người của tầng lớp trung lưu Trung Quốc cũng sẽ thấp hơn so với các nước phương Tây.

Gần đây, các công ty toàn cầu quan tâm nhiều hơn thị trường Ấn Độ do số lượng người tiêu dùng tại thành thị đang tăng nhanh, tạo nên sự bùng nổ về tiêu dùng. Khác với người tiêu dùng tại những quốc gia châu Á khác, người tiêu dùng Ấn Độ thích chi tiêu hơn là tiết kiệm. Nhưng sự bùng nổ tiêu dùng tại Ấn Độ sẽ bị hạn chế bởi mức thu nhập trung bình thấp và những hạn chế đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ. Hiện nay Ấn Độ có khoảng 300 triệu người có thu nhập ở mức trung bình, khoảng 2.000 – 4.000 USD/năm.

Sự phát triển của tầng lớp trung lưu tại Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào sự tăng trưởng của ngành công nghệ thông tin của nước này. Dự báo ngành công nghệ thông tin của Ấn Độ sẽ thu hút khoảng 9 triệu lao động trong 5 năm tới, gần gấp 3 lần so với hiện nay. Số lượng người có thu nhập trung bình sẽ tăng nhanh. Tuy nhiên thu nhập của người dân Ấn Độ vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình tại Mỹ và các nước giàu khác.

Việc tăng doanh số bán tại các thị trường phát triển khó khăn hơn rất nhiều so với tại các thị trường đang phát triển. Đối với hầu hết các công ty phương Tây, những thị trường này đã phát triển hoàn thiện và mức độ nợ tiêu dùng đã ở mức cao. Tất nhiên vẫn sẽ tồn tại những phân đoạn thị trường mới có khả năng phát triển. Nhiều doanh nghiệp coi sự thay đổi về nhân khẩu học là một cơ hội lớn. Dân số già đi đồng nghĩa với việc người dân sẽ muốn mua những dịch vụ “có khả năng trợ giúp” với giá cao hơn là một sản phẩm phải “tự vận hành” với giá thấp. Tuy nhiên, trong khi một số người cho rằng sự già hoá dân số là một cơ hội thì một số khác lại coi đó là một sự đe dọa. Dân số già hóa đòi hỏi những điều chỉnh hết sức khó khăn tại những doanh nghiệp từ trước tới nay chỉ chú trọng vào đối tượng khách hàng là những người trẻ tuổi, ví dụ như các chuỗi cửa hàng bán thức ăn nhanh hay các công ty môi giới cho vay thế chấp.

Xu hướng phát triển

Nhìn chung, trong 15 năm tới, mức lợi nhuận tại các thị trường phát triển sẽ thấp hơn. Chi phí quản lý, chi phí về nguồn lực, dịch vụ thuê ngoài và hoạt động ở nước ngoài sẽ không khác so với trước đây trừ chi phí của việc gia nhập thị trường. Hoạt động marketing theo nhiều kênh khác nhau có thể làm tăng rủi ro của việc xảy ra xung đột giữa các kênh.

Việc hợp nhất thường tạo ra lợi thế về kinh tế theo quy mô, nhưng nhiều ngành công nghiệp hiện đã và sẽ sớm nhận ra rằng lợi nhuận tăng sẽ không đủ bù đắp cho đầu tư. Tại một số phân đoạn thị trường, những rào cản pháp lý cũng cản trở việc hợp nhất hơn nữa.

Hiệu quả về mặt chi phí sẽ vẫn có vai trò vô cùng quan trọng. Các hãng bán lẻ nhận thấy họ sẽ phải chịu nhiều áp lực về giá trong 15 năm tới. Vẫn còn nhiều cơ hội trong việc khai thác các nguồn lực, dịch vụ thuê ngoài và hoạt động ở nước ngoài. Các nhà bán lẻ sẽ tiếp tục khai thác các nguồn lực của các quốc gia có mức giá rẻ. Tuy nhiên, các chiến lược kiểm soát giá mặc dù vẫn sẽ mang lại nhiều cơ hội trong 5 năm tới, nhưng nó sẽ không còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi thế khác biệt trong dài hạn.

Hoạt động marketing qua nhiều kênh sẽ phát triển do các công ty sử dụng Internet ngày càng phổ biến, và việc quản lý quan hệ khách hàng thông qua chuyển thư điện tử hiệu quả hơn. Tuy nhiên, thị trường bão hòa, xung đột giữa các kênh và lợi nhuận giảm sẽ hạn chế tiềm năng của hoạt động này trong dài hạn.

Phát triển thương hiệu

Các nhà bán lẻ ngày càng tỏ ra lo ngại về sự trung thành đối với nhãn hiệu, 64% trong số người được hỏi coi đây là sự đe dọa nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng; trong khi con số này ở các ngành khác chỉ là 50%. Theo đó, nhãn hiệu ngày càng có vai trò quan trọng, quyết định lợi thế cạnh tranh trong 15 năm tới.

Nhiều nhà bán lẻ sẽ theo đuổi chiến lược khuyếch trương nhãn hiệu để có được lợi thế này trên thị trường nội địa. Các nhà bán lẻ cũng sẽ cung cấp thêm nhiều dịch vụ, ví dụ dịch vụ bảo hiểm và mời chào các hợp đồng “mở cửa hàng trong cửa hàng” cho các nhà sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói và các nhà cung cấp dịch vụ.

Nhưng các nhà bán lẻ cũng bắt đầu xác định một chiến lược mới nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình tại các thị trường quan trọng: Tập trung phát triển mối quan hệ với khách hàng và người cung cấp. Tạo lập mối quan hệ thân thiết với các đối tác là một lợi thế cạnh tranh lớn hiện nay. Việc tăng cường hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước sẽ là một nhân tố quan trọng tạo nên thành công trong hoạt động kinh doanh. Các cửa hàng và các dịch vụ trong cửa hàng sẽ được thiết kế nhằm mục đích kết nối với khách hàng thông qua dịch vụ đối với từng khách hàng cụ thể, cách trưng bày hàng hóa hấp dẫn và dễ lựa chọn, cách thiết kế độc đáo của cửa hàng. Bên cạnh đó, hoạt động giao hàng và cung cấp dịch vụ sẽ được quản lý, giám sát và đo lường ngày càng chặt chẽ hơn. Phần lớn những người được điều tra cho biết họ sẽ liên kết chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp trong quá trình phát triển một sản phẩm mới. Và 69% cho rằng sẽ chia sẻ nhiều thông tin hơn với người cung cấp so với mức trung bình chỉ là 52%.

Yêu cầu về nhân sự

Trong việc duy trì lợi thế cạnh tranh, khả năng quản lý và kỹ năng giao tiếp sẽ là hai phẩm chất quan trọng nhất trong 15 năm tới. Việc hình thành một đội ngũ lao động được trang bị những kỹ năng trên là một thách thức lớn. Theo đó, các nhà bán lẻ sẽ tăng cường biện pháp giám sát và quản lý một cách hệ thống khả năng sáng tạo và đổi mới thông qua kiểm toán; đầu tư nhiều hơn vào các công cụ tình báo có thể giúp tăng doanh số bán cho các khách hàng cụ thể; và thay đổi hệ thống khen thưởng đối với các sáng tạo và dịch vụ khách hàng. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, nhiều doanh nghiệp tham gia điều tra đã bày tỏ mong muốn tập trung đầu tư vào dịch vụ và các hoạt động hỗ trợ khách hàng nhiều hơn là vào quản lý tài chính và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin nói chung như hiện nay.

  1. Ngành năng lượng

Tiềm năng tăng trưởng

Theo dự báo của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), với mức tăng trưởng cao, tỷ trọng cầu về dầu trên tổng cầu dầu thế giới của các nước đang phát triển sẽ tăng từ 33% năm 2004 lên 41% năm 2020. Cầu về dầu của riêng Trung Quốc trên tổng cầu dầu thế giới dự báo sẽ tăng vọt từ 7,6% năm 2004 lên gần 11% vào năm 2020.

Các nước phát triển vẫn sẽ tiêu thụ năng lượng nhiều hơn các nước đang phát triển nhưng tỷ trọng cầu của các nước này trên tổng cầu thế giới sẽ giảm đi. Các nước OECD vẫn chiếm một lượng tiêu thụ khí đốt tự nhiên lớn trên thế giới vào năm 2020, mặc dù sản lượng tiêu thụ khí đốt của các nước đang phát triển dự kiến sẽ tăng gấp 3 lần.

Thời điểm nguồn tài nguyên dầu sẽ cạn kiệt vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. Những người lạc quan thì cho rằng thời điểm đó chắc chắn sẽ phải từ sau năm 2030, trong khi đó những người bi quan thì cho rằng thời điểm đó sẽ đến sớm hơn rất nhiều. Từ nay cho đến lúc đó, có 3 phương pháp để tăng nguồn cung: Thứ nhất, khai thác các nguồn dự trữ hydro cacbon mới; thứ hai, khai thác nhiều hơn từ những nguồn dự trữ đang có; và thứ ba là, tăng tỷ lệ nguồn năng lượng thay thế trong tổng nguồn cung.

Những biến động lớn

Dự báo đến năm 2020, giá năng lượng trên thị trường sẽ có nhiều biến động và ở mức cao. Theo IEA, giá dầu tính theo giá thực tế vẫn sẽ ở mức cao cho đến tận năm 2020. Theo giá danh nghĩa, giá dầu trung bình hàng năm của các nhà nhập khẩu dầu IEA sẽ tăng lên từ 36 USD/thùng năm 2004 lên 50 USD/thùng vào năm 2020. Giá của năng lượng hydrocacbon, ngoài than đá, chắc chắn cũng theo xu hướng tăng của giá dầu.

Vai trò là trung tâm sản xuất năng lượng của khu vực Trung Cận Đông sẽ ngày càng tăng. Kết quả là lĩnh vực năng lượng sẽ trở thành một lĩnh vực nhạy cảm cao cần có sự can thiệp của các chính phủ. Trên 55% các doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng tham gia vào cuộc điều tra đã coi sự bất ổn về chính trị là nguy cơ lớn đối với công việc kinh doanh cho tới năm 2020. Các hoạt động quân sự có thể được sử dụng để bảo đảm nguồn cung. Việc thành lập một tổ chức theo kiểu OPEC cho các nhà sản xuất khí đốt là hoàn toàn có khả năng xảy ra. Các chính phủ cũng sẽ sử dụng các chính sách kinh tế để đối phó với những biến động về giá và nguồn cung.

Phát triển năng lượng tại chỗ có thể giúp các nước đang phát triển giảm gánh nặng đầu tư vào cơ sở hạ tầng năng lượng. Đối với các nước phát triển, sản lượng điện tại chỗ tăng cũng sẽ làm giảm quy mô của hệ thống truyền tải điện. Người tiêu dùng năng lượng cũng sẽ đồng thời là nhà cung cấp hay ít nhất là người quản lý năng lượng chứ không thụ động như trước đây. Quan hệ giữa các tổ chức cung cấp năng lượng và các khách hàng cũng sẽ dần thay đổi.

Sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp năng lượng

Trong 15 năm tới, ở phần lớn các thị trường, các nhà cung cấp năng lượng sẽ cạnh tranh rất gay gắt với nhau. Để đảm bảo yêu cầu cạnh tranh, các nguồn năng lượng cần phải có hiệu quả cao và chi phí thấp.

Do vậy, các hãng sản xuất năng lượng đang cố gắng phát triển những sản phẩm đặc trưng. Đồng thời, các công ty cũng phải tìm cách để tăng số lượng khách hàng trung thành. Trong đó, một phương pháp hiệu quả là phải tăng số tiện ích của sản phẩm. Theo ông Hann, trưởng nhóm quản lý kế hoạch chiến lược ở hãng năng lượng RWE npower của Anh, việc cung cấp nhiều giải pháp cho người tiêu dùng dựa trên quyền lợi cá nhân của họ quan trọng hơn là tìm cách đảm bảo đó là những giải pháp rẻ nhất hay hiệu quả nhất. Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 18% các nhà điều hành của các hãng cung cấp năng lượng ủng hộ quan điểm cho rằng việc “cá biệt hoá sản phẩm và dịch vụ” là ưu tiên hàng đầu dành cho khách hàng trong hiện tại. Tuy nhiên, 38% tin rằng việc cá biệt hoá sẽ trở thành ưu tiên hàng đầu dành cho người tiêu dùng vào năm 2020. Như vậy, tầm quan trọng của các giải pháp chú trọng đến quyền lợi cá nhân của khách hàng sẽ khiến các nhà cung cấp năng lượng phải nâng cao chất lượng dịch vụ và khâu bảo dưỡng, đồng thời mở rộng sang các phạm vi lân cận khác, như phương thức trả góp cho các hệ thống năng lượng mới hay cung cấp các hợp đồng bảo hiểm cho việc cắt giảm nguồn cung.

Tính đến năm 2020, mức độ cạnh tranh trên thị trường bán lẻ sẽ trở nên khốc liệt hơn. Sự can thiệp của nhà nước trong lĩnh vực sản xuất cũng ngày càng lớn. Những người tham gia cuộc điều tra cho rằng một chiến lược rõ ràng sẽ là một nhân tố quan trọng quyết định lợi thế cạnh tranh. Các hãng sẽ tập trung vào các kỹ năng quản lý rủi ro và quản lý dự án trong các hoạt động thăm dò hơn là trong lĩnh vực phân phối. Bên cạnh đó, rào cản lớn nhất hiện nay trong việc cải thiện mối quan hệ với các đối tác bên ngoài là việc thiếu nhân viên có kỹ năng giao tiếp. Vì vậy, phần lớn các công ty đưa ra các kế hoạch nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua các chiến lược triển khai công nghệ thông tin và các chiến lược đào tạo-tuyển dụng.

  1. Tài chính

Tính đến năm 2020, ngành tài chính sẽ có vai trò ngày càng quan trọng do kinh tế phát triển làm tăng nhu cầu về các dịch vụ giao dịch cơ bản ở các nước đang phát triển. Đồng thời, sự tích lũy của cải cũng làm tăng nhu cầu đầu tư ở các nước phát triển. Dịch vụ tài chính dự báo sẽ tăng từ 6% GDP toàn cầu năm 2005 lên 10% năm 2020, đạt doanh thu hàng năm là 6.000 tỷ đô la Mỹ. Những thành tựu về công nghệ như thiết bị thanh toán tại chỗ hiện đại, các công cụ lưu trữ và tìm kiếm số liệu bảo hiểm đường biển sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành cũng như thay đổi môi trường cạnh tranh trong ngành.

Mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm hơn so với những thị trường đang phát triển, các thị trường phát triển tiếp tục có nhu cầu rất lớn về dịch vụ tài chính do những thay đổi nhân khẩu học. Một nghiên cứu do hãng Allianz Global Investors tiến hành dự báo rằng thị trường lương hưu của Tây Âu sẽ tăng hơn hai lần trong thập niên tới, từ 7.400 tỷ euro năm 2005 lên 16.400 tỷ euro vào năm 2015.

Xu hướng phát triển

Đến năm 2020 khách hàng sẽ đòi hỏi cao hơn. Những khách hàng tìm kiếm các dịch vụ giao dịch cơ bản như mở tài khoản và các hợp đồng bảo hiểm sẽ tìm kiếm một nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất với giá cả phù hợp, các kênh phân phối và dịch vụ khách hàng thuận lợi. Khách hàng có tài sản đầu tư sẽ tìm kiếm những lời tư vấn từ những phòng dịch vụ hỗ trợ khách hàng uy tín.

Tăng trưởng của ngành tài chính tại các nước phát triển chủ yếu dựa vào các sản phẩm tối tân. Quản lý kinh doanh phần dịch vụ có hiệu quả sẽ là điều kiện cần để cạnh tranh trên các thị trường sản phẩm tối tân. Khách hàng sẽ đặt kỳ vọng nhiều hơn vào hiệu quả của sản phẩm dịch vụ, một phần do trình độ phát triển công nghệ hiện nay và một phần do họ đã quen với việc sử dụng các dịch vụ tiện dụng và đơn giản ở các ngành khác, như ngành hàng không. Những ngân hàng hay công ty sử dụng các sản phẩm dịch vụ có công nghệ tối tân, tổ chức và kiểm soát các dịch vụ tốt nhất có thể giành được ưu thế.

Các dịch vụ tiện ích, như mở tài khoản và dịch vụ thanh toán, phụ thuộc nhiều vào các chương trình công nghệ thông tin tích hợp và có hiệu quả cao. Theo một cuộc điều tra qua mạng của Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU), 55% trong số các công ty tài chính sẽ tập trung vào việc tăng cường hợp nhất dữ liệu/công nghệ và 53% mong muốn tăng cường tự động hóa các quá trình xử lý nhằm cải thiện năng suất lao động trong 15 năm tới.

Chiến lược cạnh tranh

Trước áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, các công ty tài chính sẽ phải chọn chiến lược cạnh tranh. Năm 2020, ở hầu hết các phân đoạn của ngành tài chính, lợi thế cạnh tranh sẽ không xuất phát từ chính các sản phẩm dịch vụ, do các sản phẩm dễ dàng bị bắt chước. Một số tổ chức tài chính sẽ tự khẳng định vị trí là nhà cung cấp các dịch vụ tiện ích giá rẻ, trong khi những tổ chức tài chính khác sẽ lại tập trung vào mời chào dịch vụ đầu tư phức tạp. Một số khác vẫn làm chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng.

Đối với ngành bảo hiểm, đổi mới công nghệ sẽ làm thay đổi cách thức các tổ chức bảo hiểm giao dịch với khách hàng, ký kết các hợp đồng bảo hiểm và giải quyết các khiếu nại. Các doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các giao dịch trên mạng để phân tích những trường hợp được bảo hiểm, ấn định phí bảo hiểm, tính toán yêu cầu dự trữ và thậm chí đánh giá các khiếu nại, trong đó vệ tinh được sử dụng để chụp những bức hình về tài sản được bảo hiểm với độ phân giải cao.

Trong ngân hàng, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những công ty có khả năng cung cấp dịch vụ “mọi lúc, mọi nơi” và không chỉ qua Internet. Sẽ có nhiều kênh tiến hành các dịch vụ ngân hàng, ví dụ như Thiết bị kỹ thuật số cá nhân (PDAs), điện thoại di động và tivi. Khách hàng sẽ có thể thực hiện các thủ tục ngân hàng ở mọi nơi. Theo đó, quản lý thông tin và các công nghệ hỗ trợ khách hàng sẽ là nhân tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh. Bà Kindelan, giám đốc tài chính Ngân hàng Grupo Santander lớn thứ 10 trên thế giới, cho biết: “Ngân hàng cần có thông tin đầy đủ về khách hàng để có thể đưa ra những sản phẩm phù hợp và đúng thời điểm cho từng khách hàng riêng”.

Tuy nhiên, sự tiến bộ về công nghệ không có nghĩa là đến năm 2020 việc cung cấp các dịch vụ tài chính và bán hàng trực tiếp kiểu truyền thống sẽ biến mất. Ngược lại, mặc dù khách hàng có thể tìm kiếm và sử dụng các sản phẩm giản đơn hơn thông qua mạng và các thiết bị hiện đại khác, nhưng các hình thức đầu tư ngày càng phức tạp cũng đòi hỏi phải có tư vấn riêng về tài chính, như khi vay thế chấp hoặc liên quan đến các khoản tiền đầu tư lớn. Gần 3/4 số người được điều tra trong ngành tài chính (72%) cho biết việc trực tiếp gặp gỡ khách hàng sẽ giữ vai trò quan trọng nhất đối với khả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính vào năm 2020.

Vào năm 2020, các công ty cung cấp dịch vụ tài chính cũng sẽ thay đổi cơ cấu tổ chức, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhóm hoạt động linh hoạt có khả năng tìm hiểu nhanh những mảng thị trường mới, phát triển những sản phẩm mới hiệu quả hơn và hỗ trợ khách hàng bằng sự kết hợp hoàn hảo giữa các kỹ năng và dịch vụ.

  1. Y tế và dược phẩm

Thay đổi về thị trường

Ngành y tế trong vòng 15 năm tới sẽ bị ảnh hưởng bởi hai xu hướng chính diễn ra trên thế giới: (1) Những thay đổi về nhân khẩu học đang diễn ra trên khắp thế giới, đặc biệt là ở những nước phát triển; (2) Quá trình toàn cầu hoá.

Trước tiên về xu hướng thay đổi của nhân khẩu học trên thế giới, dân số thế giới đang ngày càng già đi do tuổi thọ trung bình tăng và tỷ lệ sinh giảm ở nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển. Xu hướng này chắc chắn sẽ làm tăng cầu về các sản phẩm và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, tình trạng dân số già cũng sẽ làm tăng các khó khăn về tài chính.

Theo ý kiến của Giáo sư Daniel Vasella, giám đốc điều hành của Novartis, tỷ trọng chi cho y tế và chăm sóc sức khỏe trong GDP của các nước sẽ ngày càng tăng lên, ví dụ như ở Mỹ, tỷ lệ này tăng từ 16% lên 20%. Khi các bệnh dịch nguy hiểm dần được khống chế, tuổi thọ người dân tăng lên nhưng đồng thời tỷ lệ các bệnh mãn tính ở người già cũng tăng lên. Chính vì vậy, bộ phận dân số già ở các nước sẽ sử dụng nhiều nguồn lực y tế hơn. Ví dụ như ở Anh, số người già chỉ chiếm 16% dân số nhưng chiếm tới hơn một phần ba các chi phí về bệnh viện và sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác của việc chi phí y tế và chăm sóc sức khoẻ tăng là căn bệnh béo phì đang diễn ra ở rất nhiều nước, đặc biệt là ở Mỹ. Hơn 16% trẻ em Mỹ đang trong tình trạng béo phì và tỷ lệ này đang tiếp tục gia tăng. Béo phì cũng là nguyên nhân của các căn bệnh mãn tính khác như tiểu đường, các bệnh về tim mạch và bệnh viêm khớp. Trong năm 2005, béo phì đã làm chi phí của hệ thống chăm sóc sức khoẻ của Mỹ tăng lên tới 150 tỷ USD. Ngoài ra, dân số già đi cũng khiến chi phí lao động trong ngành y tế tăng do thiếu lao động.

Hiện nay các nước đã rất nỗ lực trong việc làm giảm chi phí trong ngành này bằng nhiều cách khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là tác động vào các nhân tố thị trường. Các nước đều khuyến khích phát triển các dịch vụ y tế tư nhân để bù đắp cho tình trạng thiếu hụt nhân viên trong khu vực y tế công cộng nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các bệnh nhân.

Các ngành khoa học đời sống cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức về kiểm soát chi phí. Theo Trung tâm nghiên cứu phát triển thuốc của Trường đại học Tufts, chi phí thực tế sản xuất một loại thuốc mới đã tăng 7,6%/năm trong giai đoạn 1991-2001. Nguyên nhân chủ yếu làm tăng các chi phí này bao gồm chi phí cho các kỹ thuật y tế và phương pháp điều trị đắt tiền hơn, chi phí cho nhiều quá trình thử nghiệm sản phẩm mới hơn.

Thứ hai, về quá trình toàn cầu hoá, lĩnh vực phát triển các sản phẩm mới và quan trọng nhất là chất lượng quản lý trong ngành y tế sẽ có nhiều biến đổi do tác động của quá trình này. Theo các chuyên gia, toàn cầu hoá sẽ là yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng của ngành y tế trong những năm tới.

Trong thời gian tới, Ấn Độ và Trung Quốc sẽ trở thành hai nhà sản xuất dược phẩm lớn trên thị trường thế giới. Ngành dược phẩm của Ấn Độ đang chuyển hướng từ việc bắt chước công nghệ nước ngoài sang tự phát minh các sản phẩm mới. Với đội ngũ chuyên gia nghiên cứu trình độ cao nhưng giá rẻ, trong những năm tới, Ấn Độ sẽ tập trung vào hoạt động chế tác. Chất lượng dược phẩm của Ấn Độ cũng đang được nâng lên gần với các tiêu chuẩn chung của thế giới. Theo giáo sư Vasella của Novartis, giá trị của thị trường dược phẩm Ấn Độ sẽ tăng gấp mười lần trong vòng 5 năm tới.

Ngành dược phẩm Trung Quốc, trong mười năm qua, đã tăng trưởng với tốc độ hai con số. Theo dự báo của Novartis, thị trường dược phẩm Trung Quốc sẽ tăng từ 6 tỷ USD năm 2002 lên đến 24 tỷ USD năm 2010. Nếu vấn đề sở hữu trí tuệ được giải quyết, ngành dược phẩm của Trung Quốc sẽ có tiềm năng phát triển mạnh hơn cả Ấn Độ.

Khi kinh tế Ấn Độ và Trung Quốc ngày càng tăng trưởng mạnh và hội nhập hơn vào nền kinh tế thế giới, các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân sẽ ngày càng có nhiều cơ hội tham gia vào hệ thống y tế của hai nước này. Hệ thống y tế công tại hai nước này dự báo sẽ suy yếu. Lý do là dù chính phủ cả hai nước đã đầu tư khá nhiều vào hệ thống y tế nhưng rõ ràng là vẫn chưa tạo ra được những quỹ đầu tư đủ lớn để phát triển một hệ thống y tế công theo kiểu châu Âu.

Thương mại quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ y tế cũng đang phát triển. Hình thức khám chữa bệnh ở nước ngoài, đặc biệt là trong điều kiện người dân ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin trên thế giới hơn, cũng bắt đầu xuất hiện. Ví dụ, khi phải đối mặt với tình trạng lao động có kỹ năng trong ngành y tế thiếu hụt và chi phí trả cho các giáo sư khi phải xử lý các ca đêm rất lớn, một số bệnh viện của Mỹ đã chuyển việc phân tích kết quả X-quang cho các chuyên gia Ấn Độ và Ixaren với chi phí tương đối rẻ. Dự báo trong tương lai, cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, các dịch vụ kiểu này sẽ phát triển rộng rãi trên toàn cầu, và có thể bao gồm cả các dịch vụ tư vấn và một số thủ tục về chăm sóc sức khỏe.

Sự cạnh tranh diễn ra trên toàn cầu cũng đem lại nhiều cơ hội cho người bệnh. Trước đây, người bệnh khi chữa bệnh thường phải đi rất xa, thậm chí là ra nước ngoài vì trong nước không có đủ điều kiện chữa một số bệnh. Nhưng ngày nay có nhiều trung tâm y tế với giá rẻ hơn, phục vụ chu đáo hơn và chất lượng bảo đảm ở khắp nơi trên thế giới. Những trung tâm y tế này cũng có cả các cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch. Ví dụ, một phòng khám đặt tại một sân bay lớn ở châu Âu có thể cung cấp cho người bệnh tất cả các dịch vụ từ phẫu thuật chỉnh hình đến điều trị tim mạch, đồng thời cũng có các chương trình tham quan các địa điểm đẹp trong thành phố dành cho gia đình của người bệnh. Đối với các dịch vụ cấp cứu, thường là đắt tiền, bao gồm cấp cứu trên đường đi, cấp cứu khẩn cấp và điều trị các bệnh mãn tính, mạng lưới các nhà cung cấp các dịch vụ này cũng sẽ phát triển mạnh trong vài năm tới.

Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (IT)

Có thể nói, việc áp dụng IT vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đã làm thay đổi bản chất các dịch vụ này. Các thiết bị IT, ví dụ như máy tính, đã ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng trong nghiên cứu cũng như sản xuất dược phẩm sử dụng công nghệ sinh học và dần trở thành một lực lượng thay thế sức lao động của con người.

Một số ứng dụng IT có khả năng sẽ được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực y tế ở một số nước phát triển trong tương lai gần. Ví dụ, các dụng cụ theo dõi sức khỏe điện tử có thể mang theo người, từ đó giúp ghi lại tiền sử bệnh và tiền sử dùng thuốc của từng cá nhân. Hệ thống này sẽ giúp nâng cao chất lượng của công tác chẩn đoán và điều trị, đồng thời giúp bệnh nhân dễ dàng thay đổi hoặc có nhiều người chăm sóc sức khoẻ trong cùng một thời điểm. Hệ thống này cũng giúp các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung cấp cho bệnh nhân nhiều dịch vụ mang tính cá nhân hơn. Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, các bệnh viện sẽ chỉ còn phải thực hiện chức năng chính của mình là xử lý các ca cấp cứu, còn người bệnh có thể tự điều trị và giám sát bệnh của mình, có thể với sự hỗ trợ của các bác sỹ ở địa phương.

Trong tương lai, máy móc sẽ giải phóng các bác sỹ khỏi những công việc như xem xét các phương pháp điều trị phù hợp, áp dụng các phương pháp đó đối với các bệnh nhân và đưa ra các chẩn đoán ban đầu. Công nghệ sẽ giúp các bác sỹ có nhiều thời gian tập trung vào những phần công việc khó khăn hơn.

Xu hướng hoạt động của các công ty trong ngành

Trong thời gian tới, mục tiêu của các công ty trong ngành chăm sóc sức khỏe và y tế vẫn không thay đổi, đó là thường xuyên tìm ra và phát triển các loại thuốc tốt hơn nhưng cách thức thực hiện các mục tiêu này sẽ dần thay đổi nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật.

Công nghệ sinh học sẽ giúp tạo ra nhiều sản phẩm hơn so với các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) thông thường. Mặc dù các công ty nghiên cứu công nghệ sinh học nhỏ hiện tại vẫn còn thiếu vốn, nguồn lực cũng như kinh nghiệm nhưng trong vòng 15 năm tới, các công ty này có thể sẽ trở thành đối thủ của các công ty dược phẩm lớn. Và khi đó các chương trình R&D của các công ty dược phẩm lớn sẽ dần chuyển hướng tập trung vào công nghệ sinh học, đồng thời các công ty này cũng sẽ chuyển sang hợp tác với các công ty nhỏ hoặc với các công ty thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin. Xu hướng hợp tác giữa các công ty trong ngành chăm sóc sức khỏe và y tế sẽ tăng lên, qua đó các công ty có thể chia sẻ thông tin và các cơ sở vật chất truyền thông. Đa số các chuyên gia đều dự báo rằng các vấn đề của ngành y tế trong tương lai sẽ được giải quyết thông qua hợp tác.

Mối quan hệ giữa các bác sỹ điều trị và bệnh nhân cũng thay đổi, điều này đòi hỏi các chuyên gia y tế sẽ cần phải có những kỹ năng mới, trong đó quan trọng nhất là kỹ năng giao tiếp với người bệnh. Trong tương lai, quan hệ giữa các bác sỹ và bệnh nhân sẽ giống như quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng. Người bệnh cũng sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn bác sỹ, phương pháp điều trị và thuốc chữa bệnh.

  1. Ngành chế tác

Trong vòng 15 năm qua, toàn cầu hoá hoạt động chế tác diễn ra mạnh mẽ. Sự chuyển dịch việc làm trong khu vực chế tác (đặc biệt các ngành sử dụng nhiều lao động) từ các thị trường phát triển sang các thị trường đang nổi sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới.

Trong vòng 15 năm tới, chi phí thấp sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng. Đối với các ngành chế tác sử dụng nhiều lao động, các nền kinh tế đang nổi vẫn có lợi thế cạnh tranh lớn. Mặc dù tiền lương tăng mạnh tại nhiều thị trường đang nổi, chênh lệch về tiền lương của khu vực này so với các nước phát triển vẫn sẽ rất lớn tính đến 2020. Theo đó, lợi thế cạnh tranh từ các thị trường chi phí thấp và các áp lực về giá được xem là hai rủi ro hàng đầu đối với các công ty trong ngành chế tác trong vòng 15 năm tới.

Tại Trung Quốc, mức lương trung bình, bằng khoảng 5% của Mỹ và EU15 năm 2005, sẽ tăng lên bằng khoảng 15% vào năm 2020. Mức lương trung bình của các nước thành viên Đông Âu mới, hiện chỉ bằng 20% mức lương của các nước Tây Âu, có thể tăng lên bằng 1/3 mức lương trung bình của EU15 vào năm 2020. Điều này cũng đe doạ sức cạnh tranh của các nước Đông Âu, đặc biệt là trong các hoạt động có chi phí vận tải cao.

Các thị trường đang nổi sẽ không chỉ cạnh tranh về chi phí lao động, chất lượng cũng đang được cải thiện. Trước những năm 90, 70% hoạt động sản xuất ti vi màu diễn ra tại các nền kinh tế có chi phí cao; hiện nay 80% các hoạt động này diễn ra tại những nước có mức lương thấp. Nhờ quá trình số hoá và chuyển giao thông tin, các thị trường đang nổi có nguồn cung lao động dồi dào có thể tham gia vào các hoạt động đòi hỏi nhiều kỹ năng như nghiên cứu và phát triển sản phẩm.

Tuy nhiên, việc chuyển hàng loạt hoạt động chế tác sang các nước đang phát triển không thể xảy ra. Trong điều kiện người tiêu dùng nhạy cảm với giá hàng hoá, như các thiết bị gia dụng nhỏ, các nền kinh tế có chi phí thấp sẽ có lợi thế đối với các sản phẩm sử dụng nhiều lao động, sản xuất khối lượng lớn và chi phí vận chuyển thấp. Tuy nhiên, trong trường hợp sản xuất khối lượng nhỏ, vốn đầu tư và chi phí vận chuyển cao hơn (ví dụ như các loại đồ điện gia dụng), các nhà chế tác sẽ có xu hướng đầu tư sản xuất tại chính thị trường tiêu thụ. Tóm lại, các nước phát triển vẫn tiếp tục chiếm ưu thế đối với các lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao như kỹ thuật cơ khí chính xác, công nghệ y học và chế tạo máy bay.

Ngoài ra, sự sẵn có về nguyên liệu thô là một trong những yếu tố quyết định việc phân bổ các hoạt động chế tác. Quyền sở hữu trí tuệ cũng là một yếu tố quyết định chiến lược đầu tư. Nếu lợi thế cạnh tranh của một công ty phụ thuộc nhiều quyền sở hữu trí tuệ (IPR), việc tiến hành hoạt động chế tác tại các nền kinh tế kém phát triển hơn – nơi có rủi ro lớn hơn về tình trạng ăn cắp bản quyền – sẽ trở nên mạo hiểm hơn.

Trong thời gian tới, nhằm tối thiểu hóa chi phí, tăng hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhu cầu của các thị trường, quá trình chế tác có thể được tách biệt, trong đó một số được thực hiện tại chỗ, một số khác được tập trung lại, và số còn lại kết hợp giữa cả hai hình thức trên. Hoạt động phát triển sản phẩm cũng được toàn cầu hóa. Ví dụ, việc số hoá các thiết kế phức tạp sẽ cho phép thông tin được chuyển từ khu vực này đến khu vực khác, giúp cắt giảm chi phí và thời gian. Đồng thời, các nhà chế tác hy vọng khách hàng và các nhà cung cấp sẽ tham gia chặt chẽ hơn vào quá trình phát triển sản phẩm trong vòng 15 năm tới.

Các quá trình sản xuất khối lượng lớn cũng có xu hướng chuyển sang các địa điểm có chi phí thấp. Tuy nhiên, các quá trình lắp ráp cuối cùng thường được tiến hành tại thị trường tiêu thụ. Kết quả là, việc thiết kế theo yêu cầu của khách hàng sẽ được đẩy mạnh tính đến năm 2020.

  1. Khu vực công

Trong khoảng 15 năm tới, chính phủ và những cơ quan nhà nước sẽ phải đối mặt với một loạt thách thức, từ sự đe doạ về an ninh quốc gia, sự già hoá dân số, những yêu cầu về giáo dục cho đến những chi phí về chăm sóc sức khoẻ.

Cho đến năm 2020, các nước phát triển như Mỹ, các nước Tây Âu, Ôxtrâylia, Niu Dilân và Nhật Bản sẽ phải đương đầu với những vấn đề về nhân khẩu học. Do quy mô của lực lượng lao động giảm, các quỹ trợ cấp y tế và quỹ hưu trí sẽ giảm. Theo đó, các chính phủ sẽ phải chọn một trong cách biện pháp là nâng cao tuổi nghỉ hưu, tăng thuế hoặc giảm phúc lợi xã hội. Đây là một lựa chọn không hề dễ dàng.

Ngoài ra, các chính phủ cũng như toàn xã hội cần đào tạo lực lượng lao động đủ năng lực để sẵn sàng đối mặt với những thách thức của một nền kinh tế toàn cầu hoá vào năm 2020. Những vấn đề như y tế, giáo dục là thách thức đối với nhiều nền kinh tế thị trường đang nổi. Do đó, những nước này sẽ tập trung trước tiên vào việc tìm kiếm nguồn vốn để cải thiện cơ sở vật chất, bao gồm cả hình thức liên kết giữa nhà nước và tư nhân.

Yêu cầu đối với dịch vụ công

Những đòi hỏi của người dân đối với các dịch vụ công ngày càng cao. Theo đó, những dịch vụ của Chính phủ cần phải hướng tới khách hàng nhiều hơn nữa. Hiện nay, người dân và doanh nghiệp mong đợi có được những gì họ muốn và nếu họ không đạt được điều đó họ sẵn sàng đưa vấn đề ra các cuộc họp và yêu cầu chính phủ đáp ứng. Các cơ quan chính phủ cần phải nhiệt tình hơn với yêu cầu của người dân và cần tăng cường những biện pháp nhằm đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao và phức tạp của khách hàng.

Theo đó, những dịch vụ chính phủ cung cấp cần đơn giản hơn thông qua việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến đồng thời tăng cường chất lượng và mức độ chính xác của những dịch vụ này. Những công việc thực hiện bởi con người sẽ được giảm thiểu và Chính phủ điện tử sẽ được sử dụng rộng rãi. Trên thực tế, nhiều nơi đã thực hiện điều này. Những quan chức thành phố Eugene, bang Oregon (Mỹ) đã tiến hành xem xét, phê duyệt, cấp phép xây dựng thông qua cổng thông tin trực tuyến. Tại Bắc Ailen, phần lớn những nhà tư vấn luật đã sử dụng dịch vụ đăng ký sử dụng công nghệ số hoá để thực hiện việc chuyển nhượng đất đai và tài sản. Hơn 10% các công ty của Phần Lan thực hiện việc báo cáo thuế giá trị gia tăng trực tuyến. Người dân trên toàn thế giới ngày càng tiết kiệm thời gian hơn trong việc đăng kí dịch vụ y tế hay gia hạn giấy phép và bằng lái xe thông qua các công cụ là các trang web. Trong vòng 15 năm tới, việc chính phủ cung cấp các dịch vụ qua mạng sẽ trở nên phổ biến.

Bên cạnh việc phát triển những dịch vụ tự động, tự phục vụ, các nhân viên nhà nước cần cải thiện mối quan hệ với người dân và doanh nghiệp. Những kỹ năng giao tiếp sẽ trở nên rất quan trọng đối với những nhân viên nhà nước trong tương lai. Đến năm 2020, kỹ năng quản lý, giao tiếp và thuyết trình sẽ là những kỹ năng quan trọng nhất trong các cơ quan chính quyền. Nhưng lực lượng lao động không nhất thiết phải tăng về số lượng. Mỗi nhân viên được tuyển dụng cần phải được đào tạo tốt để đáp ứng những yêu cầu của khách hàng. Các cơ quan nhà nước đang nhận ra rằng họ cần phải chuyên nghiệp hơn nữa để đáp ứng với những yêu cầu ngày càng phức tạp hơn.

Những kỹ năng làm việc cao hơn sẽ đòi hởi chi phí cao hơn nhưng hầu hết các cơ quan nhà nước đều phải đối mặt với sự hạn chế về ngân sách. Tuy nhiên, năng suất lao động có thể được cải thiện thông qua việc sử dụng những phương tiện thông tin liên lạc tốt hơn và cơ cấu tổ chức hiệu quả hơn, giảm thiểu các cấp quản lí và nhân viên sẽ có nhiều quyền hơn trong việc ra quyết định.

Những nhân viên có vị trí quan trọng sẽ phải có kiến thức về công nghệ. Nâng cao khả năng sử dụng công nghệ thông tin là một yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Đến năm 2020, đầu tư vào công nghệ tại các cơ quan nhà nước sẽ tập trung chủ yếu vào việc chuyển từ quản lý cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin chung, quản lý mua sắm chính phủ, quản lý và báo cáo tài chính hiện nay sang phát triển chiến lược, quản lý tri thức và phát triển sản phẩm. Việc già hoá dân số có thể hỗ trợ quá trình này, làn sóng nghỉ hưu trong các năm tới sẽ cho phép các cơ quan nhà nước tiếp nhận nhiều nhân viên mới thành thạo về công nghệ thông tin hơn.

Hợp tác trong cung cấp dịch vụ

Tăng cường quản lí tri thức, cơ cấu lại tổ chức và nhân sự có kỹ năng hơn sẽ giúp các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả hơn. Theo Bill Beach, giám đốc trung tâm phân tích dữ liệu của Quỹ Heritage, nhiều cơ quan nhà nước đang nhận thấy rằng việc hợp tác với người dân địa phương sẽ mang lại lợi ích cho cả hai. Một dịch vụ chỉ hiệu quả khi có sự kết hợp của nhiều nhóm cộng đồng hay nhiều cơ quan khác nhau. Ngoài ra, dịch vụ thuê ngoài sẽ được sử dụng rộng rãi. Ví dụ như nhiều bộ ngành của Anh đã tiến hành thuê ngoài nhiều hoạt động từ việc kiểm soát giao thông đến việc chẩn đoán X-quang. Các bộ ngành của Ôxtrâylia cũng tiến hành thuê ngoài các hoạt động liên quan đến lĩnh vực IT hay các chức năng quản lý văn phòng khác. Theo đó, để có hiệu quả, những sự hợp tác như vậy đòi hỏi phải tiêu chuẩn hoá các quá trình, định dạng dữ liệu và đồng bộ về công nghệ giữa các cơ quan chính quyền.

  1. Ngành viễn thông

Đến năm 2020, nếu những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông muốn mở rộng kinh doanh, họ cần phải thay đổi cơ bản các dịch vụ, các hình thức cung cấp dịch vụ và cách thức làm việc của nhân viên.

Sản phẩm mới, đối thủ cạnh tranh mới

Trong 15 năm tới, để có được lợi nhuận, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trên thị trường viễn thông toàn cầu cần tập trung phát triển các sản phẩm mới. Những sản phẩm trong tương lai của họ sẽ không thể chỉ đơn thuần là dịch vụ về đường truyền và các cuộc gọi.

Những công ty của châu Á đang dẫn đầu trong việc đầu tư vào công nghệ điện thoại di động băng thông rộng. Đây là tiền đề cho việc phát triển những phần mềm và dịch vụ mới có thể được bán cho các nhà cung cấp dịch vụ ở những khu vực khác. Tại Hàn Quốc, các nhà cung cấp đang xây dựng mạng WiBro – một mạng thông tin di động dựa trên giao thức Internet (IP) cho phép tăng tốc độ đường truyền tại khu vực thành thị. NTT Docomo của Nhật là một trong những công ty đang phát triển công nghệ 4G (công nghệ di động thế hệ thứ tư), theo đó hội tụ các mạng 3G hiện nay vào một mạng di động lớn hơn dựa trên giao thức Internet. Tại các thị trường châu Á phát triển, công nghệ 4G sẽ được sử dụng trong vòng 5 năm tới. Tại các nước Châu Âu và Mỹ, các nhà cung cấp di động cũng sẽ sở hữu mạng điện thoại di động 4G trong vòng 10 đến 15 năm tới.

Ngoài ra, những cải tiến trong tương lai sẽ chủ yếu dựa trên phần mềm. Kết quả là, mối đe dọa lớn nhất đối với doanh thu hiện tại và trong tương lai của các công ty trong ngành lại đến từ những công ty không hề cung cấp dịch vụ mạng như Google, Microsoft hay Ebay thông qua việc cung cấp những dịch vụ như VOIP (đàm thoại dựa trên giao thức Internet), hội nghị truyền hình và những dịch vụ vẫn chưa được phát triển khác. Những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cũng nhận ra rằng khách hàng có thể sử dụng mạng của họ như đường truyền rẻ để sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp khác. Theo ông Dennis Weller, nhà kinh tế học tại Verizon, không một công ty nào có thể biết chắc vị trí của mình trong 15 năm tới, công ty lớn nhất có thể không phải là những công ty cung cấp dịch vụ mạng mà có thể sẽ là Google hoặc những công ty phần mềm khác. Đến năm 2020, công nghệ chip sẽ hiện đại đến mức có thể cho phép các sản phẩm hàng hoá tiêu dùng, như điện thoại hay giày dép, có thể trao đổi thông tin mà không cần sự can thiệp của mạng viễn thông hay bất cứ một tính năng tích hợp nào từ phía nhà cung cấp dịch vụ.

Sự cần thiết phải hợp tác

Những công ty điện thoại hôm nay cũng có thể là những công ty cung cấp cơ sở hạ tầng hoặc đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng trong dài hạn rồi cho những công ty cung cấp dịch vụ khác thuê lại mạng. Nếu các công ty trong tương lai muốn cung cấp những dịch vụ, ứng dụng hay giải pháp kinh doanh mới thì họ cần tập trung cải thiện dịch vụ khách hàng, phát triển những kỹ năng và quy trình cần thiết để cung cấp các dịch vụ chất lượng.

Việc cung cấp những dịch vụ tích hợp hệ thống, bảo mật và những dịch vụ thu phí khác đặt ra yêu cầu phải bắt kịp những ứng dụng mới, tăng cường các mối quan hệ hợp tác với các công ty khác. Theo đó, cần tăng cường hợp tác với những hãng truyền thông, xuất bản, phim ảnh, trò chơi, các hãng sản xuất thiết bị điện tử và các công ty phần mềm nhằm có những sản phẩm thoả mãn nhu cầu khách hàng. Phần lớn các công ty cho thấy trong vòng 15 năm tới số lượng đối tác của họ sẽ tăng đáng kể, chủ yếu là các công ty hoạt động tại những thị trường đang phát triển, dẫn đầu là các công ty của Trung Quốc và Ấn Độ.

Do vậy, xu hướng phát triển mới tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ nội dung và các dịch vụ khác sẽ đòi hỏi sự hợp tác nhiều hơn nữa, không chỉ giữa các công ty dịch vụ điện thoại và các nhà cung cấp, các đối tác mà còn giữa các công ty điện thoại và khách hàng. Hơn 85% các công ty viễn thông mong muốn khách hàng sẽ tham gia nhiều hơn nữa vào việc phát triển sản phẩm trong tương lai 15 năm tới. Khách hàng không chỉ tham gia phát triển sản phẩm mới mà còn góp phần hiệu quả trong lĩnh vực marketing sản phẩm. Ví dụ, Neuf Telecom khuyến khích khách hàng dùng thử và cho ýnhận xét về những sản phẩm và dịch vụ của họ như những ứng dụng cho máy tính cá nhân và Internet.

Ngành viễn thông còn chứng kiến sự thay đổi trong quan hệ giữa các công ty điện thoại và những nhà cung cấp thiết bị. Theo đó, những nhà cung cấp thiết bị muốn mở rộng phạm vi hoạt động. Một số nhà sản xuất thiết bị tại các thị trường phát triển có chi phí cao mong muốn những khách hàng là các công ty điện thoại tăng cường các hoạt động dịch vụ thuê ngoài, bao gồm cả việc vận hành hệ thống mạng.

Các kỹ năng cần thiết đối với các công ty viễn thông cũng có sự thay đổi. Các kỹ sư mạng vẫn có vai trò quan trọng nhưng số lượng sẽ giảm khi các mạng được tiêu chuẩn hoá và trở nên dễ vận hành hơn. Việc cung cấp những dịch vụ nội dung đòi hỏi sự sáng tạo, khả năng am hiểu tâm lý khách hàng, kỹ năng marketing và khả năng thiết lập, quản lý hợp đồng thương mại. Nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, thường vẫn quen với việc cung cấp cùng một phương thức truyền dữ liệu, giọng nói và dịch vụ tích hợp mạng cho tất cả các đối tượng khách hàng, cũng phải thừa nhận rằng họ cần phải nâng cấp hoạt động hơn nữa. Theo ông Weller của công ty Verizon, vấn đề là làm sao để có thể kết hợp những người có khả năng sáng tạo và các kĩ sư. Các nhà quản lý trong ngành viễn thông cho biết việc thiếu nhân viên có kĩ năng giao tiếp là trở ngại lớn nhất trong việc cải thiện quan hệ với khách hàng, các nhà cung cấp và các đối tác khác. Do đó, các nhà quản lý trong ngành viễn thông đang tích cực tìm kiếm những nhân viên có thể tham gia vào quá trình ra quyết định với các đối tác như những nhà cung cấp và khách hàng.

 

Dự báo tốc độ tăng GDP, GDP bình quân đầu người giai đoạn 2006-2020 (%)

Nước/Khu vực Tốc độ tăng GDP Tốc độ tăng GDP

bình quân đầu người

2006-2010 2011-2020 2006-2020 2006-2010 2011-2020 2006-2020
Thế giới 4,0 3,3 3,5 2,7 2,4 2,5
EU25 2,2 2,0 2,1 2,0 2,0 2,0
EU15 2,0 2,0 2,0 1,7 1,9 1,8
Châu Á 5,5 4,5 4,9 4,5 3,6 3,9
Châu Mỹ Latinh 3,6 3,0 3,2 2,4 2,1 2,2
Trung Đông và Bắc Phi 4,4 3,8 4,0 2,7 2,4 2,5
Cận Xahara 3,5 2,5 2,8 2,0 1,2 1,4
Mỹ 3,0 2,8 2,9 2,0 1,8 1,9
Pháp 2,0 1,8 1,9 1,6 1,6 1,6
Đức 1,8 1,9 1,9 1,7 2,0 1,9
Italia 1,5 0,8 1,0 1,5 1,0 1,2
Thổ Nhĩ Kỳ 4,9 4,1 4,4 3,6 3,3 3,4
Anh 2,1 2,4 2,3 1,7 2,0 1,9
Cộng hoà Séc 4,1 2,4 3,0 4,2 2,6 3,1
Hungary 3,3 3,1 3,2 3,6 3,4 3,5
Ba Lan 4,1 3,0 3,3 4,2 3,0 3,4
Rumani 4,5 3,3 3,7 4,7 3,5 3,9
Nga 4,7 2,6 3,3 5,1 3,0 3,7
Xlôvakia 5,3 3,5 4,1 5,1 3,4 4,0
Ucraina 5,7 3,5 4,2 6,3 3,9 4,7
Nhật Bản 1,1 0,5 0,7 1,2 0,8 0,9
Trung Quốc 7,8 5,1 6,0 7,2 4,5 5,4
Ấn Độ 6,6 5,5 5,9 5,2 4,3 4,6
Inđônêxia 5,6 5,0 5,2 4,2 3,9 4,0
Malaixia 5,3 4,8 5,0 3,4 3,1 3,2
Pakixtan 5,9 5,3 5,5 4,0 3,6 3,7
Philipin 5,2 4,7 4,9 3,4 3,1 3,2
Xingapo 4,5 4,0 4,1 3,6 3,4 3,5
Hàn Quốc 4,0 3,9 4,0 3,6 3,6 3,6
Đài Loan (TQ) 4,5 3,4 3,8 4,2 3,0 3,4
Thái Lan 4,5 4,7 4,7 3,8 4,2 4,1
Việt Nam 7,0 4,6 5,4 5,7 3,4 4,2
Áchentina 3,8 3,4 3,6 2,7 2,7 2,7
Braxin 3,9 2,9 3,2 2,6 2,1 2,3
Côlômbia 3,7 2,8 3,1 2,1 1,6 1,8
Chilê 5,2 4,3 4,6 4,0 3,5 3,7
Mêhicô 2,8 3,0 2,9 1,6 1,9 1,8

Nguồn: Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU).

Tổng hợp theo Báo cáo ”Foresight 2020: Economic, industry and corporate trends” của Cơ quan tình báo kinh tế Anh EIU, 2006.

 

Theo: Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – xã hội Quốc gia

 

 

Kinh tế Nghiên cứu