Từ tình hình bãi Tư Chính, nghĩ đến đối sách trước mắt và lâu dài với Trung Quốc

Trước hết phải khẳng định Việt Nam là một nước yêu chuộng hòa bình, sống hòa hiếu với các nước láng giềng, tôn trọng nước lớn, giúp đỡ nước nhỏ. Nhưng Việt Nam buộc các quốc gia khác phải tôn trọng quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Là xâm lược hay là tranh chấp chủ quyền?

Khu vực Bãi Tư Chính nằm trong hồ sơ biển của Việt Nam tham gia Công ước Unclos về Luật biển quốc tế 1982. Và trên thực tế, Việt Nam đã thăm dò, khai thác dầu, khí trên vùng biển chủ quyền này ổn định từ mấy chục năm nay. Cụ thể là từ năm 1989 và sau đó xây lắp các nhà giàn kiên cố:

DK1/11; DK1/12; DK1/14 từ các năm 1994 – 1995; trong khu vực này còn có 2 hải đăng, tháp cao 22m tầm hiệu 12 hải lý. Đơn vị quân đội bảo vệ các nhà giàn và vùng biển đang khai thác dầu, khí này là Tiểu đoàn DK1, trực thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân nhân dân Việt Nam.

Theo Công ước về Luật biển Quốc tế Unclos mà Trung Quốc cũng là một thành viên, quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, và kéo dài tới biển khơi không quá 350 hải lý cũng tính từ đường cơ sở. Phần 200 hải lý là vùng đặc quyền kinh tế và quyền chủ quyền; phần kéo dài là quyền tài phán.

Theo Unclos: Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Quyền tài phán được diễn giải như là hệ quả của quyền chủ quyền.

Bãi Tư Chính cách bờ biển Việt Nam (lấy Vũng Tàu làm chuẩn) 160 hải lý, cách bờ biển Trung Quốc hơn 600 hải lý, là cả một trời cách biệt, không dính dáng gì tới nhau, nên hoàn toàn không có sự chồng lấn, tức không có yếu tố tranh chấp.

Âm mưu của Trung Quốc là tạo ra vùng tranh chấp để lấy cớ thương lượng. Âm mưu này người Trung Hoa đã hành xử hàng ngàn năm nay trên biên giới đất liền qua từng bước: Xâm canh – Xâm cư – Xâm táng. Khi họ đã ấn được mồ mả vào đó, sẽ là bước tranh chấp rất quyết liệt. Chiêu trò này tuy cũ rích, nhưng nó lại là bảo bối kinh điển của giới cầm quyền Trung Hoa. Tuy gây ra căng thẳng, nhưng chưa tới ngưỡng chiến tranh. Chỉ bằng dọa nạt, nhưng kẻ nhát gan đã xanh mắt, tái mặt, bỏ của chạy lấy người. Chúng ta phải hết sức cảnh giác với thủ đoạn quen thuộc này của Bắc Kinh.

Đã không chồng lấn mà vô cớ đem lực lượng tàu thuyền đến thăm dò trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đích thị Trung Quốc là kẻ xâm lược đúng nghĩa, cần phải nghiêm khắc lên án, và xua đuổi chúng ra khỏi vùng biển chủ quyền của nước ta, không có gì phải bàn bạc hoặc tranh cãi.

Tọa đàm khoa học “Vùng biển Bãi Tư Chính và Luật pháp quốc tế”

Âm mưu – Thủ đoạn – Luận điệu xảo trá của nhà cầm quyền Trung Quốc

ÂM MƯU

Từ đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã bày tỏ khát vọng sang thế kỷ 21 sẽ là cường quốc biển. Đặc biệt trong tác phẩm “Trung Quốc không muốn làm một bất tiên sinh” in vào thời kỳ đó, đã ấp ủ giấc mộng Trung Hoa. Nghĩa là muốn trở thành quốc gia hàng đầu, quốc gia lãnh đạo thế giới, thì Trung Quốc phải vượt ra khỏi sự bao vây, tù túng, phải làm chủ Tây Thái Bình Dương (tức Biển Đông). Và từ đấy, Trung Quốc âm thầm thực hiện âm mưu. Bắt đầu là cuộc xâm lược chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa của Việt Nam vào đầu năm 1974; xâm lược và chiếm đóng đảo Gạc Ma và các đảo khác của Việt Nam năm 1988.

Tới năm 2009, Trung Quốc quấy rối và xua đuổi tàu Impeccable của Mỹ nghiên cứu đại dương, trong vùng biển quốc tế phía khơi xa của đảo Hải Nam. Sang năm 2012, thì Trung Quốc quấy rối và cắt cáp các tàu thăm dò dầu, khí của Việt Nam, Bình Minh 1, Bình Minh 2. Đây là đòn cân não đối với các nước ven Biển Đông và cũng là phép thử đối với cả Hoa Kỳ.

THỦ ĐOẠN

Trung Quốc thường ve vãn Việt Nam bằng lời lẽ đường mật, và coi đó như là cương lĩnh, là khuôn vàng thước ngọc trong ứng xử của mỗi nước. Đó cũng là thủ đoạn Trung Quốc trói buộc Việt Nam. Đồng hành với mưu toan này, họ lại đắp hờ thêm chiếc lá nho “Đại cục”.

Ví như: Hợp tác toàn diện Láng giềng hữu nghị Ổn định lâu dài Hướng tới tương lai

Lãnh đạo hai nước coi đây là 16 chữ vàng. Trung Quốc còn gia cố thêm thỏa hiệp này giữa lãnh đạo hai quốc gia bằng các sáo ngữ: Sơn thủy tương thông, Tư tưởng tương đồng, Vận mệnh tương liên

Dường như Nhà nước Việt Nam đã hành xử khá nghiêm túc với các ước thúc tùy tiện này. Nhưng phía Trung Quốc không mảy may tôn trọng. Tuy nhiên, quốc dân lại nhìn thấu tim đen của lãnh đạo Bắc Kinh, nên có cách nhìn khác.Họ nhại lại cái gọi là 16 chữ vàng bằng các sự thật do Trung Quốc hành xử, và họa lại bằng 16 chữ của chính Nhân Dân: Láng giềng hiểm độc, Cướp đất toàn diện, Lấn biển lâu dài, Thôn tính tương lai.

Và rồi Trung Quốc dụ dỗ các nước có tài nguyên dầu, khí trong vùng thềm lục địa của mình, cho Trung Quốc cùng khai thác, với điều kiện: Chủ quyền thuộc ngã Cách tri tranh luận Cộng đồng khai thác

Nghĩa là, gác lại việc tranh luận, hãy cùng nhau khai thác, nhưng chủ quyền thuộc về tôi (tức Trung Quốc). Vậy là anh bạn Bàng Quyên (1) này xin vào nhà người ta, đòi làm ăn chia chác của nả của chủ nhà, rồi kết thúc bằng tuyên bố trắng trợn, nhà này của tôi.

Xem ra trò xảo trá này không lừa được ai, Trung Quốc lén lút bồi đắp các đảo cướp được thành các căn cứ quân sự như đường băng sân bay, đài ra đa, bãi phóng tên lửa, cảng tàu bè, kho quân nhu… Rồi từ đấy dùng lực lượng quân sự hùng mạnh của mình bắt nạt, hoặc ăn cướp trắng trợn, không cho các nước liên kết với bên thứ ba (không phải Trung Quốc) khai thác tài nguyên trong thềm lục địa của mình, với cái cớ khu vực đó nằm trong đường (lưỡi bò) của Trung Hoa.

Đôi khi Trung Quốc còn cử các hung thần đến tận nước có chủ quyền đang thăm dò khai thác dầu khí, trực tiếp dọa nạt. Đó là trường hợp Phạm Tường Long, thượng tướng, Phó Chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc, đến Việt Nam vào ngày 20 tháng 6 năm 2017, trắng trợn tuyên bố với phía Việt Nam rằng: “Toàn bộ các đảo ở biển Nam Hải (Biển Đông) đã thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ thượng cổ” (Theo Tân Hoa Xã). Và y ép Việt Nam phải ngừng khoan thăm dò lô dầu khí 13/03 do Việt Nam phối hợp với Repsol của Tây Ban Nha vào tháng 7/2017. Lại tháng 3/2018, Trung Quốc cũng ép Việt Nam phải ngưng thăm dò ở Lô 07/03. Trắng trợn gọi bán thầu hàng vạn km2 vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhưng không ai thèm mua của ăn cướp. Và Việt Nam cũng lên tiếng không cho phép ai thăm dò trong thềm lục địa của mình mà chưa được Việt Nam cấp phép.

Và tới nay, họ đã rục rịch từ tháng 5, nhưng mãi tới ngày 3 tháng 7 vừa qua các lực lượng Trung Quốc mới lộ mặt với tàu HD8 và một số tàu hải cảnh có công suất lớn từ 4.000 đến 12.000 tấn, và một số gọi là tàu cá công suất cao, kỳ thực là tầu hải quân trá hình. Với lực lượng áp đảo, họ đòi phía Việt Nam phải ngừng thăm dò khai thác trong khu vực Bãi Tư Chính, nghĩa là Việt Nam không được phép khai thác tài nguyên trên vùng biển thuộc chủ quyền của mình.

Trước sự trắng trợn và lì lợm của phía Trung Quốc, Việt Nam phản ứng một cách dè dặt. Mãi ngày 12 và 16 tháng 7, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao, bà Lê Thị Thu Hằng mới lên tiếng một cách yếu ớt, yêu cầu tầu nước ngoài xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam, khu vực Bãi Tư Chính phải rút đi. Và Việt Nam quan ngại…

Tuyên bố không ám chỉ Trung Quốc, nhưng ai cũng biết thủ phạm là Trung Quốc. Cách tuyên bố như “tàu lạ”, “tàu nước ngoài”, không mang tính phản ứng mạnh mẽ trong tư thế khẳng định chủ quyền; không chỉ khiến người trong nước mà cả người nước ngoài cũng phải ngán ngẩm.

Nhưng rất lạ, tới 19 tháng 7, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng lần đầu tiên phát ngôn rất mạnh mẽ, chẳng khác lời lẽ đanh thép thời kháng chiến chống Mỹ 1965 – 1975 và thời chống quân xâm lược bành trướng Trung Hoa năm 1979.

Trong những ngày qua, nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc đã có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông. Đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam được xác định theo đúng quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên”.

Khi được các phóng viên đề nghị bình luận về phát biểu của Người phát ngôn Bộ ngoại giaoTrung Quốc ngày 17/7 liên quan đến diễn biến ở khu vực Biển Đông. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam giải thích: “Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tầu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định hòa bình ở khu vực, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”.

Tiếp đó tại diễn đàn các Bộ trưởng ngoại giao Asean, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng chỉ trích trực diện phía Trung Quốc vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam trên Bãi Tư Chính. Khi tiếng nói chính nghĩa cất lên nó mới đanh thép làm sao.Ngay lập tức thu hút sự đồng tình của người trong nước và dư luận quốc tế.

Bộ Ngoại giao và cả Chính phủ nên biết, khi các vị nhân danh quốc gia, phát ra tiếng nói đại diện cho quyền lợi của dân tộc, thì phía sau quý vị có cả gần trăm triệu dân Việt Nam làm điểm tựa. Thế mới biết: “Người ta lớn, bởi vì ta quỳ xuống!”.

Và chỉ ít giờ sau tuyên bố cứng rắn của Việt Nam,đã có sự hưởng ứng rất mạnh mẽ của Bộ Ngoai giao Hoa Kỳ, phản đối sự bắt nạt và gây rối dai dẳng của Trung Quốc đối với Việt Nam và gây bất ổn cho an ninh hàng hải. Tuyên bố nhấn mạnh: “Hành động lặp đi lặp lại của Trung Quốc nhằm vào hoạt động phát triển dầu khí ngoài khơi, đe dọa an ninh năng lượng khu vực, đồng thời làm suy yếu thị trường năng lượng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương…”.

Ngày 25/7, Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ viện Mỹ Eliot L. Engel tuyên bố: “Theo Công ước Liên Hiệp quốc về Luật biển (Unclos) 1982, những hành động của Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam và các quyền hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”.

Hiện Thượng viện Hoa Kỳ đang đệ trình Quốc hội một đạo luật: “ Nhằm thắt chặt hơn nữa các nỗ lực của Mỹ và đồng minh để đối phó với hoạt động quân sự hóa nguy hiểm và phi pháp của Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp mà Trung Quốc đã chiếm đóng Biển Đông”.

Đạo luật này nếu được thông qua, sẽ cấm vận các tổ chức và cá nhân vi phạm đến quyền tự do hàng hải, hàng không và quân sự hóa Biển Đông. Theo TTO: “Ngoại trưởng ba nước Mỹ- Nhật- Úc đã cùng bầy tỏ quan ngại về các hoạt động cản trở khai thác dầu khí, cũng như việc cải tạo các đảo và triển khai vũ khí ở Biển Đông”.

Tiếp đó, ngày 1.8 Người phát ngôn Bộ ngoại giao Ấn Độ ông Raveesh Kurmar cho biết: “Các hoạt động khai thác dầu khí của Ấn Độ ngoài khơi Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi các tầu Trung Quốc”.

Nhân chuyến thăm Hà Nội của Phó Chủ tịch Ủy ban Châu Âu, bà Federica Mogherinia, Hãng tin AFP của Pháp cho hay: “Bà Federica Mogherinia nói rõ Liên minh Châu Âu quan ngại về tình hình căng thẳng đang gia tăng tại khu vực Biển Đông. Và hoạt động quân sự hóa chắc chắn không dẫn đến môi trường hòa bình” vv…

Rõ ràng các hoạt động mang tính xâm lược và gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông vừa phi lịch sử, phi đạo đức và đặc biệt là phi pháp nên không được sự đồng tình và ủng hộ của các quốc gia láng giềng và trên thế giới.

Một cường quốc có tham vọng lãnh đạo Thế giới mà chà đạp lên luật pháp quốc tế, hung hăng như Vậy, và dùng sức mạnh cơ bắp để tước đoạt tài sản của các quốc gia nhỏ bé, thử hỏi có xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo Thế giới không?

Đành rằng trong những nước ủng hộ ta, có nước có dính đến quyền lợi của chính họ. Nhưng phù hợp với quyền lợi của ta, tức là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của ta; đương nhiên phải thừa nhận họ là đồng minh của ta.

Có nhiều nước như Liên minh Châu âu, hoàn toàn không dính dáng gì đến Biển Đông. Nhưng nhân loại nhận thức được sự nguy hiểm cho toàn thế giới, nếu để Trung Quốc hành xử như vậy trên tuyến đường biển huyết mạch này, thì như học giả Peter Navaro đã cảnh báo: “Thế giới sẽ chết dưới tay Trung Quốc“. Vậy, ta cần suy ngẫm và hành động bảo vệ Tổ quốc.

LUẬN ĐIỆU  CỦA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC

Sau khi người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, chỉ đích danh bọn xâm lược vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong khu vực Bãi Tư Chính,và trong Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao các nước Asean lần thứ 52 họp tại Bangkok, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nói trực diện với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị: “Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp với hành động đơn phương quân sự hóa, gia tăng tập trận quân sự, đặc biệt là tầu khảo sát HD8 cùng các tầu hải cảnh Trung Quốc và dân binh đã xâm phạm vùng biển Việt Nam.

Đây là những hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, theo Công ước Luật biển năm 1982, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình, vi phạm tuyên bố chung về ứng xử tại Biển Đông (DOC) đi ngược lại cam kết duy trì môi trường thuận lợi cho đàm phán một bộ quy tắc về ứng xử (COC)”.

Và đây là phản ứng của phía Trung Quốc. Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hoa Xuân Oánh nói hôm 26/7: “Việt Nam đã vi phạm quyền, chủ quyền của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính kể từ tháng 5. Chúng tôi kêu gọi phía Việt Nam xử lý phù hợp việc này”. Đúng là kẻ cướp la làng !

Còn Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị, đã nói một cách rất không đúng sự thật  tại hội nghị Bộ Trưởng ngoại giao các nước Asean: “Tình hình Biển Đông đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, thông qua những nỗ lực chung của các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Asean và không có vấn đề gì về tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.

Một số cọ sát có thể tăng lên theo thời gian do những tranh chấp lịch sử, và những vấn đề này cần được giải quyết bởi các quốc gia trực tiếp liên quan thông qua các biện pháp hòa bình…

Các nước ngoài khu vực không nên khuếch đại những khác biệt hoặc tranh chấp từ quá khứ như vậy, và chớ có gieo rắc ngờ vực giữa Trung Quốc và các nước Asean”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc và chính Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị đều lảng tránh sự thật đang diễn ra. Đặc biệt ông Vương Nghị thì quanh co, dối trá.

Đúng là không có gì ngoài sự xâm lược của Trung Quốc đối với các đảo của Việt Nam từ 1974 và 1988 cho tới hiện nay, chứ làm gì có sự tranh chấp từ “lịch sử” và từ “quá khứ”? Làm ơn đưa dẫn chứng ra đi ông Vương Nghị, dù chỉ là một tấm bản đồ Trung Quốc được vẽ ra trước 1904. Trong đó có dấu ấn các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Thật bất hạnh cho các ông, bằng chứng xác thực cả thế giới đều thấy trong các bản đồ cổ mà tổ tiên các ông tự vẽ, thì bờ biển cuối cùng của Trung Hoa chỉ là Quỳnh Châu tức đảo Hải Nam ngày nay. Chính cái tên Hải Nam cũng là để nói lên giới hạn biển cuối cùng của Trung Hoa là nằm ở đó rồi.

Xin nhắc, trong các chứng cứ lịch sử các ông còn có tấm bản đồ vẽ khá chi tiết, do các học giả Trung Hoa và Phương Tây thực hiện vào thời nhà Minh, khoảng đầu thế kỷ 15, do bà Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức A.Markel tặng ông Tập Cận Bình khi qua thăm nước Đức. Tại sao các ông không đem ra làm dẫn chứng lịch sử nhỉ?

Rõ ràng là Trung Quốc không đưa ra được bất cứ bằng chứng lịch sử nào, về chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam đang sở hữu. Và theo sự công nhận của Luật biển Unclos 1982 mà Trung Quốc cũng là thành viên, thì các hành động của Trung Quốc hành xử trên Biển Đông với các nước liên quan như Việt Nam, Malaysia, Philippines, Indonesia, Brunei đều là hành vi của kẻ xâm lược.

Tử huyệt của Trung Quốc là vấn đề pháp lý. Đường lưỡi bò mà tôi chỉ muốn gọi là “Đường ngu ngốc” do Trung Quốc tự ý vẽ ra, để mưu toan độc chiếm Biển Đông đã bị Tòa trọng tài quốc tế (PCA) bác bỏ. Trong tất cả các nước liên quan đến Trường Sa, Hoàng Sa, duy nhất Việt Nam có bằng chứng lịch sử (2), cả về văn bản pháp lý quốc gia, cũng như việc thực thi chủ quyền liên tục từ thế kỷ 17 cho tới khi Trung Quốc cưỡng chiếm. Cho nên điều cần làm lúc này là kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế (PCA).

Chỗ sở trường của ta là bằng chứng pháp lý. Tử huyệt của Trung Quốc cũng là pháp lý, và đó chính là cái sở đoản của họ. Nên họ cứ đưa ra cái lý cù nhầy: “Từ cổ đại các đảo ở Nam Sa đã là lãnh thổ của Trung Quốc”. Nhưng họ không có một mảy may chứng cứ.

Điều Việt Nam cần làm lúc này là:

(Gần 3 tháng nay các tầu hải cảnh và chấp pháp của Trung Quốc che chắn cho tầu thăm dò địa chất HD8 của họ cứ thậm thụt ra vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam khu vực Bãi Tư Chính, như bọn trộm đạo, như bọn cướp có vũ trang, hăm he, đe dọa, khiêu khích, quấy rối và gây bất ổn cho an ninh hàng hải – Con đường giao thương huyết mạch của cả thế giới.)

– Quốc tế hóa sâu rộng vấn đề Biển Đông trên các Hội nghị, Hội thảo quốc tế,nhằm làm cho Thế giới thấy rõ tính phi pháp của Trung Quốc trong việc chiếm đóng Biển Đông, và tính vô trách nhiệm trong việc quân sự hóa Biển Đông; bởi nó tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể dẫn tới chiến tranh.

– Khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế (PCA). Việc khởi kiện phải chuẩn bị hàng núi hồ sơ, phải có cả một Ban Pháp lý chuẩn bị chứ không thể nói là làm ngay được. Vì vậy Chính phủ sớm lo liệu việc này.

– Trang bị phương tiện thích hợp và đủ mạnh cho lực lượng tuần duyên và hải cảnh, để bảo vệ ngư dân và biển, đảo.

– Trong chừng mực nào đó, phải trang bị khí tài cần thiết cho Hải quân và Không quân đủ mạnh để bảo vệ Tổ quốc, và mang tính răn đe.

– Lực lượng tuần duyên và cảnh sát biển, kiên quyết xua đuổi một cách quyết đoán đối với bất kỳ tầu thuyền nước nào, xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán thềm lục địa của nước ta.

– Liên kết bạn bè và liên kết quốc tế thành một mặt trận, đấu tranh pháp lý chống kẻ gây rối, và đe dọa an ninh hàng hải và hàng không ở Biển Đông.

– Ra sách trắng về Biển Đông, và công bố trước toàn thể Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc về những hành động gây hấn của Trung Quốc.

– Khẳng định chủ quyền một cách mạnh mẽ như ta vừa làm, sẽ được toàn dân ủng hộ và quốc tế đồng tình. Đồng thời lập một kênh thông tin,trong đó thường xuyên giới thiệu về lịch sử thực thi chủ quyền của Việt Nam từ Thế kỷ 17, trên hai quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa. Cung cấp đầy đủ thông tin cho mọi tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, cần tìm hiểu về lịch sử hai quần đảo này.

Tùy viên văn hóa các Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài,có trách nhiệm giới thiệu về lịch sử hai quần đảo này của Việt Nam, và thường xuyên cung cấp thông tin cho báo chí nước ngoài về tình hình Biển Đông. Nếu ta làm tốt kênh thông tin này, cũng có nghĩa ta kết nối được bạn bè 5 Châu góp phần ngăn chặn chủ nghĩa bá quyền phiêu lưu của Trung Quốc,

– Nhà nước nên đầu tư đáng kể cho vận tải biển theo hướng Bắc – Nam và ngược lại. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho vận tải biển. Như vậy ta sẽ có một đội thương thuyền rất lớn, luôn đi lại trên biển, cước phí vừa hạ, vừa luôn có người làm chủ vừa quán xuyến, vừa canh giữ biển.

– Nhà nước đầu tư, hoặc kêu gọi nước ngoài đầu tư xây dựng cảng nước sâu Bắc Vân Phong thành cảng trung chuyển logistics. Vân Phong vừa là cảng trung chuyển trong nước vừa đủ tiêu chuẩn là cảng quốc tế. Tại đây. luồng lạch tự nhiên không phải nạo vét,và từ cảng trực tiếp ra biển không cần tầu lai dắt. Tuy nhiên, vì an ninh quốc gia nên tuyến đường biển huyết mạch này, phải loại các nhà đầu tư và nhà thầu đến từ Trung Quốc.

– Thế kỷ 21, không gian sinh tồn của nước ta chủ yếu dựa vào tài nguyên biển. Với thềm lục địa 1.170.000 km2 gấp gần 4 lần diện tích đất liền. Như hiện nay ta chưa khai thác được cái gì đáng kể từ biển. Nhưng thu nhập từ dầu khí đã cho 10% GDP. Thu nhập nghề cá chiếm 10% kim ngạch xuất khẩu. Phải giữ biển như giữ nhà, như giữ nước từ ngàn đời nay ta vẫn giữ.

– Phải biên soạn tài liệu phổ cập trong nhà trường và trong nhân dân, để mọi người nhận diện giá trị chiến lược của biển đảo nước ta trong bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế.

– Một dân tộc đã gan góc đánh bại mọi đế quốc xâm lược, kể cả tổ tiên nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay, và chính họ cũng vừa đại bại trong cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979. Một dân tộc như thế, với số dân gần trăm triệu, nếu đoàn kết thành một khối thống nhất, sẽ là một thành trì bất khả xâm phạm.

– Nhà nước nên thường xuyên thông báo tình hình ngoài Biển Đông đến toàn thể quốc dân. Tức là phải minh bạch thông tin. Nhân dân đã trưởng thành. Họ cần được tôn trọng. (Nhưng trong lúc cần đấu tranh bằng giải pháp hòa bình, hãy để Chính phủ giải quyết, tránh các cuộc manh động).

– Phải đoàn kết được toàn dân tộc thành một khối, thì Nhà nước mới có sức mạnh, khi ấy sẽ không sợ bất cứ kỳ kẻ thù nào. Người dân có quyền tham gia việc nước với tinh thần đoàn kết toàn dân trên các trận tuyến kinh tế xã hội và bảo vệ tổ quốc.

(1).Bàng Quyên và Tôn Tẫn là đôi bạn thân thời Chiến quốc của Trung Hoa cổ đại, vì tham danh vọng, Bàng Quyên đã phản bội bạn. Y vu cáo rồi chặt chân Tôn Tẫn và giam cầm bạn.

(2).Để nắm có hệ thống về chủ quyền biển đảo Việt Nam, bạn đọc đánh vào cụm Từ khóa – Âm mưu độc chiếm Biển Đông từ tham vọng đế cuồng vọng của Trung Quốc.

Hoàng Quốc Hải/ Tầm nhìn

 

 

 

 

 

Chưa được phân loại Nghiên cứu Thể chế